ĐĐ Thích Minh Thành thuyết giảng
"Mỗi ngày siêng nghe Pháp.
Ứng dụng tu hành đúng như Pháp.
Giúp đỡ mọi người hiểu được Pháp.
Là cách tu hành thiết thực nhất"
A. Mở Đề:
Kinh Quán Phổ Hiền nói: “Nếu tội lỗi của chúng sanh có hình tướng thì tất cả
hư không cũng chẳng thể chứa hết”. Thế nên chúng ta không ai có thể tự hào là
hoàn toàn trong sạch, không mắc phải một sai lầm nào, do đó cần phải thực hành
sám hối. B. Thân Bài: 1. Định Nghĩa:
“Sám” nghĩa là ăn năn lỗi trước, “Hối” nghĩa là chừa bỏ lỗi sau, nói chung có
nghĩa là “ăn năn chừa lỗi”.
Tất cả tội lỗi đều phát xuất từ thân, miệng, ý của con người. Giờ đây muốn
diệt trừ, không có cách nào khác hơn là biết lỗi, nhận lỗi
và chuyển đổi chính mình. Đó chính là trọng tâm của việc sám hối trong
đạo Phật.
Các cách sám hối: 1. Cách sám hối sai lầm:
-Người thế gian, khi có tội lỗi với ông bà, làng nước thì dùng trầu rượu, heo
gà, tiền bạc để tạ tội. -Ngoại đạo dùng máu thú vật xin rửa tội với thần
linh; hoặc tắm ở những sông, suối mà người ta cho là linh thiêng; hay ép xác như
đánh đập thân mình, nhịn đói, nhịn khát, chịu nóng rét, nằm gai nếm mật để được
giải thoát tột lỗi. 2. Sám hối chân chính: Tất cả tội lỗi đều phát xuất từ thân miệng ý của con người
Kinh Trung Bộ, đức Phật dạy La Hầu La: “Nếu trong khi phản tỉnh, ông biết như
sau: “Thân, miệng và ý nghiệp này, ta đã làm đưa đến hại mình, đưa đến hại
người, đưa đến hại cả hai; thời là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo
đau khổ.
Một thân miệng và ý như vậy, ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải
trình bày trước các vị đạo sư, hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí.
Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ trình bày, ông cần phải lo âu, cần phải hổ thẹn,
nhàm chán, cần phải phòng hộ trong tương lại”. Có bốn phương pháp: a. Tác pháp Sám hối: Thiết lập giới đàn, thỉnh chư Tăng
thanh tịnh, phải thành thật tỏ bày tội lỗi, hết lòng ăn năn và nguyện về sau
không tái phạm. b.Thủ tướng Sám hối: đến trước tượng Phật, Bồ tát, thành tâm
đảnh lễ, bày tỏ lỗi lầm và nguyện chừa bỏ. Thực hành như thế mãi cho đến khi nào
thấy tướng hảo của Phật hoặc Bồ tát mới thôi. c. Hồng danh Sám hối: Nghi thức này thực hành bằng cáh dốc
lòng đảnh lễ những danh hiệu tôn quí của chư Phật để diệt trừ những tội lỗi đã
tạo trong hiện tại và quá khứ.
Phương pháp này do Pháp sư Bất Động – người đời Tống bên Trung Quốc soạn từ
quyển kinh “Ngũ Thập Tam Phật” – từ chỗ Đức Phật Phổ Quang đến chỗ Phật Nhất
Thiết Pháp TRang Mãn Vương là 53 danh hiệu Phật, cộng thêm 53 danh hiệu trong
kinh “Quán Dược Vương và Dược Thượng” và Pháp thân của Đức Phật A Di Đà.
Cuối cùng là bài kệ “Đại Nguyện” của Bồ Tát Phổ Hiền mà tạo ra nghi thức sám
hối có tổng cộng 108 lạy, ý nghĩa là để diệt trừ 108 phiền não của chúng
sanh.
Đức Phật Tỳ Bà Thi nói rằng: “Nếu chúng sanh nào nghe danh hiệu của 53 vị
Phật này, thì trăm ngàn ức kiếp không bị đọa vào trong ác đạo”.
Phật Thích Ca cũng có nói: “Thuở xưa vào thời của Đức Phật Diệu Quang, Ta đi
tu nhằm vào thời mạt pháp. Do nhờ nghe được danh hiệu của 53 vị Phật này và
thành tâm lễ bái nên tránh được những đau khổ trong đường sanh – tử luân hồi
trong nhiều kiếp”.
Trong kinh Bảo Tích nói: “Nếu tất cả chúng sanh phạm tội ngũ nghịch hay thập
ác đến muôn kiếp không thể sám hối, nhưng chỉ xưng danh hiệu của 53 vị Phật này
thì diệt trừ được hết những tội chướng”. d. Vô sanh Sám hối: Ba pháp trước thuộc về phần Lý. Sự – Lý
hỗ trợ nhau thì không có tội nào không diệt, chẳng có phước nào không sanh.
Kinh Quán Phổ Hiền nói: Tất cả biển nghiệp chướng, Đều từ vọng tưởng sanh, Nếu người muốn sám hối, Ngồi ngay xét lẽ thực, Tội lỗi như sương móc, Mặt trời tuệ soi tan.
Tất cả tội lỗi đều từ vọng niệm gây ra, nếu thấu suốt vọng niệm vốn không
thật thì tội lỗi từ đâu sanh khởi?
Do quán xét lẽ thật của các pháp là không, thảy đều rỗng lặng, vì thế diệt
trừ mọi tội lỗi. e. Tự tâm chân thành Sám hối: Tự mình nói với Phật, lạy tha
thiết chí thành chậm rãi trang nghiêm. C. Kết Luận:
Nếu thực hành pháp sám hối một cách chân chánh, chúng ta sẽ phát triển được
tánh thành thật, trau dồi tính cương quyết diệt trừ thói xấu, dứt sạch tội lỗi,
tăng thêm phước huệ. Tội từ tâm khởi đem tâm sám, Tâm nếu tịnh rồi tội liền tiêu, Tôi tiêu tâm tịnh thảy đều không, Thế mới thật là chân sám hối.
TỪ NGÀY 01 THÁNG 04 ÐẾN NGÀY 08 THÁNG 04 NĂM 2012 TẠI TIỂU BANG TEXAS
- THIỀN TỰ CHÂN NGUYÊN
Chủ Nhật: Ngày 01 Tháng 04 Năm 2012
Vào Lúc: 10:00 AM Ðến 11:30 AM ( BUỔI SÁNG )
Vào Lúc: 2: 00 PM Ðến 3:30 PM ( BUỔI CHIỀU)
Ðịa Chỉ: 12039 HOLDERRIETH RD
TOMBALL, TX 77375
Tel: (281) 290 - 0984 - CHÙA TỊNH LUẬT
Chủ Nhật: Ngày 08 Tháng 04 Năm 2012
Vào Lúc: 09: 00 AM Ðến 10:30 AM
Ðịa Chỉ: 8703 FAIRBANKS
N. HOUSTON, TX 77064
Tel: (713) 856-7802 - CHÙA TỪ BI QUÁN THẾ ÂM ĐẠO TRÀNG
Chủ Nhật: Ngày 08 Tháng 04 Năm 2012
Vào Lúc: 11: 00 AM Ðến 12:30 AM
Ðịa Chỉ: 16827 MUESCHKE RD
CYPRESS, TX 77433
Tel: 281 - 256 - 8687 - CHÙA PHƯỚC ÐỨC
Chủ Nhật: Ngày 08 Tháng 04 Năm 2012
Vào Lúc: 2:00 PM Ðến 3:30 PM
Ðiạ Chỉ: 10839 LILLEUX RD
N. HOUSTON, TX 77067
Tel: (281) 999 - 1110
* TỪ NGÀY 09 ÐẾN NGÀY 29 THÁNG 04 NĂM 2012 TẠI CÁC TIỂU BANG PENNSYLVANIA - WASHINGTON D.C. - FLORIDA - NEW JERSEY
- TƯ GIA PHẬT TỬ DIỆU MINH
Thứ 5: Ngày 12 Tháng 4 Năm 2012
Vào Lúc: 7:00 PM Ðến 9:00PM
Email: amthucchay@yahoo.com - CHÙA GIÁC LÂM
Thứ 7: Ngày 14 Tháng 4 Năm 2012
Vào Lúc: 3:00 PM Ðến 5: 00PM
Ðịa Chỉ: 131 NYACK AVE.
LANSDOWNE, PA 19050
Tel: (610) 626 - 8499 - CHÙA GIÁC LÂM
Chủ Nhật: Ngày 15 Tháng 4 Năm 2012
Vào Lúc: 1:30 PM Ðến 3: 00 PM
Ðịa Chỉ: 131 NYACK AVE.
LANSDOWNE, PA 19050
Tel: (610) 626 - 8499 - TƯ GIA PHẬT TỬ TỪ MINH
Thứ 7: Ngày 21 Tháng 4 Năm 2012
Ðịa Chỉ: WASHINGTON D. C.
Tel: (703) 675-4554 - ÐẠO TRÀNGĐỊA TẠNG
Chủ Nhật: Ngày 22 Tháng 4 Năm 2012
Vào Lúc: 9:00 AM Ðến 10:30 AM
Ðịa Chỉ: 19303 Wheatfield Dr.
Germantown, MD 20876
Tel: (301) 978-1508 hay (240) 205-2701 - CHÙA HOA NGHIÊM
Chủ Nhật: Ngày 22 Tháng 4 Năm 2012
Vào Lúc: 1:00 PM Ðến 2:00 PM
Ðịa Chỉ: 9105 Backlick Rd.
Fort Belvoir, VA 22060
Tel: (703) 799 - 0441 - THƯ VIỆN TỊNH ĐỘ PHỔ HIỀN
Thứ 7: Ngày 28 Tháng 4 Năm 2012
Vào Lúc: 09:00 AM
Ðịa Chỉ: 3851 62nd AVE N.
PINELLAS PARK, FL 33781
Tel: (727) 776-0126 hay (727) 686-4631 - TU VIỆN ÐỨC MẸ HIỀN
Chủ Nhật: Ngày 29 Tháng 4 Năm 2012
Vào Lúc: 11: 00 AM
Ðịa Chỉ: 317 PRINCETON AVE.
STRATFORD, NJ 08084
Tel: (703) 577-9018 - TƯ GIA PHẬT TỬ DIỆU MINH
Chủ Nhật: Ngày 29 Tháng 4 Năm 2012
Vào Lúc: 7: 00 PM
Email: amthucchay@yahoo.com
* TỪ NGÀY 30 THÁNG 04 ÐẾN 02 THÁNG 05 NĂM 2012 TẠI TIỂU BANG NEVADA ( LAS VEGAS )
- NIỆM PHẬT ÐƯỜNG PHỔ QUANG
Thứ 3: Ngày 01 Tháng 05 Năm 2012
Vào Lúc: 9:00 AM Ðến 7:00 PM
Ðịa Chỉ: 7389 PARNELL AVE.
LAS VEGAS, NV 89147
Tel: (702) 499 - 0197
* TỪ NGÀY 02 ÐẾN NGÀY 10 THÁNG 05 NĂM 2012 TẠI TIỂU BANG BẮC CALIFORNIA
- TƯ GIA PHẬT TỬ ÐỨC NHÃ
Thứ 5: Ngày 3 Tháng 5 Năm 2012
Vào Lúc: 2:00 PM
Tel: (408) 904 - 9024
-CHÙA TUỆ VIÊN
Thứ 5: Ngày 3 Tháng 5 Năm 2012
Vào Lúc: 7:30 PM - 9:30 PM
Dia Chi: 1905 E . SAN ANTONIO ST
SAN JOSE, CA 95116
Tel: (408) 923 - 5179 - CHÙA ÐỨC VIÊN
Thứ 6: Ngày 4 Tháng 5 Năm 2012
Vào Lúc: 7:30 PM Ðến 9:00 PM
Ðịa Chỉ : 2420 MC LAUGHLIN AVE.
SAN JOSE, CA 95122
Tel: (408) 993 - 9158 - ĐẠO TRÀNG AN HẠNH
Thứ 7: Ngày 5 Tháng 5 Năm 2012
Vào Lúc: 10:30 AM Ðến 12:30 PM
Ðịa Chỉ: 4941 EBERLY DR.
SAN JOSE, CA 951111
Tel: (408) 326 - 9758 - CHÙA AN LẠC
Thứ 7: Ngày 5 Tháng 5 Năm 2012
Vào Lúc: 2:30 PM Ðến 4:30 PM
Ðịa Chỉ: 1647 E . SAN FERNANDO ST.
SAN JOSE, CA 95116
Tel: (408) 254 - 1710 - TỊNH THẤT HÒA BÌNH
Chủ Nhật: Ngày 6 Tháng 5 Năm 2012
Vào Lúc: 10:30 AM Ðến 12:30 PM
Ðịa Chỉ: 37538 2ND ST.
FREMONT, CA 94538
Tel: (510) 790 - 2003 - CHÙA AN LẠC
Chủ Nhật: Ngày 6 Tháng 5 Năm 2012
Vào Lúc: 2:30 PM Ðến 5:00 PM
Ðịa Chỉ: 1647 E . SAN FERNANDO ST.
SAN JOSE, CA 95116
Tel: (510) 790 - 2003 - ÐẠO TRÀNG LIÊN TRÌ
Thứ 4: Ngày 9 Tháng 5 Năm 2012
*TỪ NGÀY 11 THÁNG 5 ÐẾN NGÀY 16 THÁNG 5 NĂM 2012 TẠI TIỂU BANG NAM CALIFORNIA
- CHÙA QUAN ÂM
Thứ 6: Ngày 11 Tháng 05 Năm 2012
Vào Lúc: 7:00 PM
Ðịa Chỉ: 10510 CHAPMAN AVE.
GARDEN GROVE, CA 92840
Tel: (714) 636 - 6216 - CHÙA BÁT NHÃ
Thứ 7: Ngày 12 Tháng 5 Năm 2012
Vào Lúc: 9:30 AM Ðến 11:30 AM
Ðịa Chỉ: 803 S . SULLIVAN ST.
SANTA ANA, CA 92704
Tel: (714) 571 - 0473 - CHÙA HUỆ QUANG
Thứ 7: Ngày 12 Tháng 05 Năm 2012
Vào Lúc: 2:00 PM Ðến 4:00 PM
Ðịa Chỉ: 4918 W WESTMINSTER AVE.
SANTA ANA, CA 92703
Tel: (714) 530 - 9249 hay (714) 534 - 2525 - CHÙA BÁT NHÃ
Chủ Nhật: Ngày 13 Tháng 05 Năm 2012
Vào Lúc: 2:00 PM Ðến 5:00 PM
Ðịa Chỉ: 803 S . SULLIVAN ST.
SANTA ANA, CA 92704
Tel: (714) 571 - 0473
* TỪ NGÀY 16 ÐẾN NGÀY 21 THÁNG 5 NĂM 2012 TẠI TIỂU BANG WASHINGTON
- TƯ GIA PHẬT TỬ HẠNH CHƠN
Thứ 6: Ngày 18 Tháng 5 Năm 2012
Vào Lúc: 7:00 PM Ðến 9:00 PM
Ðịa Chỉ: 18028 44 th AVE. NW
LYNWOL, WA 98037
Tel: (425) 210 - 4530 - CHÙA CỔ LÂM
Thứ 7: Ngày 19 Tháng 5 Năm 2012
Vào Lúc: 9: 00 AM Ðến 7: 00 PM
Ðịa Chỉ: 3503 S. GRAHAM ST.
SEATTLE , WA 98118
Tel: (206) 353 - 5985 - THIỀN VIỆN TRÚC LÂM MINH CHÁNH
Chủ Nhật: Ngày 20 Tháng 5 Năm 2012
Vào Lúc: 10:00 AM Ðến 11:30 AM
Ðịa Chỉ: 13440 SE 192 nd ST.
RENTON , WA 98058
Tel: (253) 631 - 7346
NGÀY 23 THÁNG 5 NĂM 2012 HOÀN MÃN
*Lưu ý: chương trình sẽ được cập nhật nếu có thay đổi.
2. Điều phục lưỡi, lời nói êm dịu, từ hoà, khiêm tốn, sáng suốt của trí tuệ Bố thí ánh mắt, bố thí vẻ mặt, bố thí lời nói
3. Biết đủ, không so đo với người khác (đối với vật chất). Chấp nhận những gì mình đang có.
4. Ở trong bổn phận nào làm tròn bổn phận đó. Đó là đạo, đạo tức là bổn phận. An trụ nơi vị trí của mình. Ngay lúc hiện tại là chứa đựng đủ tất cả. Làm việc thì chú tâm vô việc làm, nghe Pháp thì chú tâm trong lời Pháp... Đại đạo sâu thẩm của Phật Pháp ở ngay trong đó. Tâm ta luôn phóng tới tương lai, quay về quá khứ mà lãng quên giây phút hiện tại. Biết tỉnh liền tỉnh, đợi tới lúc tỉnh bao giờ mới tỉnh.
5. Từ bỏ tham sân si. Chiếc thuyền rỗng nhẹ sẽ đi mau. Tu là quăng ra những thứ cấu bẩn của phiền não. Không thì nhận giặc làm con, rất là đau khổ. Phải có tâm yên định, ngồi lắng đọng Dừng lại và nhìn rõ. Dừng nơi thân, nơi miệng, nơi tâm mới thấy rõ, thân này vay mượn không bền chắc. Đừng để buông lung phải luôn kiểm soát. Trí tuệ không có phát sanh đến những người không suy niệm Tâm không yên định thì không thể nào nhìn thấu triệt được. Dừng ba nghiệp thì tâm tự nhiên tỏa sáng. Hít vào niệm A Di Thở ra niệm Đà Phật Thấy rõ mạng sống trong hơi thở.
Cuộc sống sẽ có ý nghĩa, đền bốn ân cứu giúp ba cõi.
Ai lại không muốn được sống lâu khỏe mạnh, sự nghiệp vững bền, gia đình hạnh phúc, mọi người tin tưởng quý mến, thông minh trí huệ. Vậy làm thế nào để đạt được điều đó? Năm giới chính là yếu tố căn bản để thực hiện ước mơ ấy!
B. Thân bài
I. Định nghĩa:
Giới nghĩa là ngăn ngừa lỗi lầm của thân – tâm. Giới còn có nghĩa là trong mát. Giới có thể dập tắt Lửa dữ của ba nghiệp thiêu đốt con người. Kinh Anh Lạc Bản Nghiệp nói: “Tất cả chúng sanh mới vào biển Tam Bảo lấy lòng tin làm gốc. Ở trong nhà Phật lấy Giới làm gốc”.
Ngũ Giới là năm điều ngăn ngừa những ý niệm, ngôn ngữ, hành động bất chánh. Người Phật tử cần phải gìn giữ để bảo vệ hạnh phúc cho mình, cho mọi người và vạn vật. Vì thương xót chúng sanh, Đức Phật chế định ra năm điều ngăn cấm này giúp chúng ta hoàn thiện nhân cách đạo đức của một con người.
II. Năm Giới:
1. Không giết hại chúng sanh:
Cái quí trọng nhất của con người là mạng sống, giết hại mạng người là việc làm cực ác hoàn toàn trái với đạo lý.
Người tham sống, vật cũng tham sống, người sợ chết vật cũng sợ chết, Thế nên, người Phật tử vì lòng từ bi còn không nỡ giết hại loại vật huống gì là con người đồng loại!
Không giết hại mà còn phóng sanh các loài vật thì đời này và đời sau được quả báo khỏe mạnh và sống lâu. Trái lại, người ưa giết hại chúng sanh hiện đời bị tổn thọ, đời sau bị quả báo thường đau và chết yểu.
2. Không trộm cướp:
Không được sự đồng ý mà lấy những vật thuộc quyền sở hữu của người, hoặc cậy thế ỷ quyền cưỡng ép bằng vũ lực để lấy, lường thăng tráo đấu, đi làm việc trễ giờ đều thuộc về tội trộm cắp cả.
Nếu phạm trộm cắp, hiện tại bị người tìm bắt, trói buộc, tra tấn kèm kẹp, hành phạt khổ sở, cha mẹ buồn tủi, xã hội khinh thường, bạn bè lánh xa, mất sự tin cậy nhau.
Sau khi chết, trở lại làm người bị bần cùng, cơm không đủ no, áo không đủ ấm. Hoặc có khi làm được của, rồi bị cướp giựt, nhà cháy, nước trôi, rốt cuộc cũng hoàn nghèo khổ; hoặc làm tôi tớ trâu bò để đền trả nợ trước
Không trộm cắp mà còn bố thí, thì đời này đời sau hưởng phước giàu có, an vui sung sướng.
3. Không tà dâm:
Là cấm chồng hay vợ không được lén lút ngoại tình. Tham tâm tà bậy có năm điều tai hại:
a. Làm cho vợ chồng buồn khổ, ghen tương
b. Khiến mất lòng tin cậy nhau
c. Thân mạng gởi trên đao kiếm
d. Gia đình suy sụp
e. Mắc phải quả báo xấu về sau, là chồng hay vợ con sanh lòng lang chạ
Nếu muốn gia đình đầm ấm vui vẻ, muốn được tin cậy, muốn mạng sống vững yên, muốn thành tựu gia nghiệp, muốn được tiếng thơm sạch ở đời này, và khỏi bị quả báo xấu ở đời sau thì nên đoạn hẳn tà dâm.
4. Không nói dối:
Nói lời trái với sự thật mưu cầu lợi mình hại người, đó là nói dối. Nói dối có bốn cách:
a. Nói không chân thật: Lấy phải làm quấy, nên thấy mà nói không thấy. Lấy quấy làm phải, nên không thấy mà nói thấy.
b. Nói thêu dệt: Trau sửa lời hoa nguyệt, tiếng hay khéo, xui người buông lung tâm trí để làm việc tà bậy.
c. Nói lưỡi đôi chiều: Đến người này nói chuyện xấu người kia, đến người kia nói chuyện xấu người này, khêu gợi đấu tranh nhau, làm cho ân ái chia lìa.
d. Nói lời hung ác: Mắng nhiếc hủy nhục người khiến cho lửa giận tức của người bốc lên; cho đến có mặt thì khen, vắng mặt thì chê; ở trước mặt thì cho là phải, sau lưng cho là trái.
“Bớt nói một câu chuyện
Niệm nhiều một câu Phật
Đánh chết được vọng niệm
Pháp thân ta hiển lộ”
“Khẩu khai thần khí tán
Thiệt động thị phi sanh”
Vì dối trá nên hiện đời mất lòng tin cậy nhau, không thể lập nên sự nghiệp lớn, khi chết đọa vào ba đường ác chịu khổ.
Không nói dối sau khỏi ăn năn, ở đời được mọi người tin cậy, nhiều đời sau thân trang nghiêm tốt đẹp, có uy tín thế lực, mọi người nghe theo.
5. Không uống rượu:
Rượu làm cho người cuồng tâm mất trí, gây nên đủ thứ tội lỗi, chết đi sống lại trong sự si mê nhiều kiếp, nên rượu là món độc hơn cả thuốc độc. Uống rượu say có mười điều lầm lỗi:
a. Tâm tán loạn của cải rơi mất
b. Thân hay sanh bệnh tật
c. Tăng trưởng lòng giết hại
d. Tâm sân hận bừng bốc, ưa sanh sự đấu tranh
e. Trí tuệ dần kém
f. Phúc đức tiêu mòn
g. Sự nghiệp chẳng thành
k. Thêm nhiều sự buồn khổ
l. Khổ nhục cha mẹ vợ con
m. Thân hoại mạng chung, đọa vào địa ngục chịu khổ, đời đời ngu tối
Không uống rượu thì được lợi ích trái lại với những điều nói trên.
Bài 4: Quy y Tam Bảo A-Mở Bài:
Người sống trên đời như đi trong đêm tối, cần phải có ánh đèn sang suốt soi đường dẫn lối. Tam bảo chính là ngọn đèn tỏa sang giúp chúng ta đi đến chỗ an vui. B- Thân Bài:
I. Định nghĩa:
1. Quy y là trở về nương tựa.
2. Tam bảo là ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng
a. Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn từ bi và trí tuệ viên mãn rốt ráo. Ngài là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến, bậc tri đạo, khai đạo, thuyết đạo.
b. Pháp là những phương pháp tu hành chấm đut khổ đau, đạt đến an lạc giải thoát.
c. Tăng là một đoàn thể tu hành từ bốn người trở lên phải hòa hợp cùng chia sớt cho nhau về vật chất lẫn tinh thần theo sáu pháp hòa kính (thân hòa cùng ở chung, miệng hòa không tranh cãi, ý hòa cùng vui vẻ, kiến thức hòa cùng giãi bày, giới hòa cùng tu hành, lợi hòa cùng chia sẻ).
Tăng còn có ba ý nghĩa:
Một là chuyên gia về Phật học, đầy đủ hạnh vi diệu, hạnh chất trực, hạnh như lý, hạnh chân chánh.
Hai là người chỉ đạo tính ngưỡng, có tâm nguyện giáo hóa, chuyên lòng dốc sức cứu độ chúng sanh.
Ba là người kế thừa chánh pháp, làm cho chánh pháp tồn tại lâu dài là nhiệm vụ chính yếu của Tăng già.
Người đời:
Vội vội vàng vàng khổ nhọc cầu
Mưa mưa nắng nắng trải xuân thu
Hôm hôm sớm sớm lo sanh kế
Lãng lãng quên quên bổng bạc đầu
d. Phật, Pháp, Tăng được gọi là ba món châu báu (Tam bảo), vì có sáu ý nghĩa: Hy hữu (hiếm có), Ly cấu (lìa sự nhơ bợn), Thế lực (có sức mạnh), Trang nghiêm, Tối thắng, Không thay đổi (theo Luận Bảo Tánh).
3. Quy y Tam Bảo là trở về nương tựa với Phật Pháp Tăng
Chỉ có Tam bảo mới là nơi nương tựa vững chắc nhất. Con người vì sợ hãi bất an mà đến quy y thần núi, rừng cây, đền miếu nhưng đó chẳng phải là chỗ nương tựa an ổn, chỗ quy y tối thượng, ai quy y như thế khổ não vẫn còn nguyên.
Trái lại quy y Phật Pháp Tăng phát trí tuệ chân chánh, hiểu thấu bốn lẽ thật: biết khổ, biết nhân khổ, biết khổ diệt và biết tám chi thánh đạo, diệt trừ hết khỗ não, đó là chỗ quy y an ổn, là chỗ quy y tối thượng. Ai quy y được như vậy, giải thoát hết khổ đau" (Pháp cú câu 188-192)
Chẳng học mà hay
Chẳng phải Thánh sao?
Có học mới hay
Chẳng phải hiền sao?
Học mà chẳng thông
Chẳng phải ngu sao?
Chịu khó mới thông
Chẳng phải trí sao?
Có ruộng chẳng cày
Kho lẫm trống không
Có sách chẳng dạy
Con cháu ngu ngốc
Kho lẫm trống không
Con cháu nghèo đói
Con cháu ngu ngốc
Lễ nghĩa chẳng thông
Hễ người chẳng học
Mờ như đi đêm
Nghe sách như điếc
Trông chữ như đui
Nhỏ thì siêng học
Lớn thì thực hành
Rèn lòng, sửa mình
Yên nhà trị nước
Kẻ sĩ sửa san việc nhà
Việc làng rồi tới việc nước
Những vị thi đậu làm quan
Vốn là hạng người đọc sách
Nghèo mà chăm học
Nhờ đó lập nên thân phận
Giàu mà chăm học
Nhờ đó danh vọng cang cao
Giở quyển là có ích
Có chí tất thành công
Một câu nhiễm tâm thần
Đều giúp đến bờ kia
Nghĩ suy hằng tu tập
Thường dùng làm thuyền bè
Học vấn càng rộng
Trí huệ càng sáng
Chẳng thẹn hỏi kẻ dưới
Trí huệ càng tinh thông
Học một mình không bạn
Kiến văn cạn và ít
Cá muốn thành rồng, vượt ba thác
Người muốn thẳng ngay, phải uốn mài
Trước lễ, sau văn nên thấu rõ
Học Phật cần tròn chữ "nhân" thay!
Đang đi: 1 chân đứng yên, 1 chân đi, hai cái kết hợp mới thành ra sự đi, nên không có thật
Trong thời gian đã đi không có khởi đầu Trong thời gian đứng lại không có khởi đầu .người đi khg có đứng lại .người khg đi khg có đứng lại .ngoài hai người đi và người khg đi làm sao có người thứ ba Trong thời gian hiện đi cũng không có sự khởi đầu
An = Yên Thu nhiếp thân: không đi, không nói, không làm Thu nhiếp tâm, phải có pháp: Lễ sám Tụng kinh Niệm Phật Nghiền ngẫm Giáo lý
Chánh: 1 pháp luôn nắm giữ hành trì Phụ: hỗ trợ thêm Người niệm Phật mà có ý niệm khác thì lúc đó là mất mạng, phải thâu về ngay tức khắc. Nếu mất pháp là lúc đó mình đã chết. Dụng công như vậy mới có tin vui. Muốn nắm được phải có trợ duyên Buông bỏ thân tâm, phi pháp, không buông không thể nào nắm được. Phi pháp: . Vật chất: được tiền của có bị động không? . Công việc: bếp, xây dựng.... Công việc có gì đâu thay nhọc cho đại chúng là kẻ ở đợ, cu li để phụng sự cho Phật pháp. Làm mà không có làm. . Tri thức hiểu biết phải buông bỏ, tất cả những sở trường. Dầu giỏi đến tầm quốc tế cũng phải buông, mới đi vào cửa không Bát nhã được. Tu hoài mà không tiến bộ là vì không buông bỏ cái hay cái giỏi của mình. Người thông minh lanh lợi bén nhạy quá khó tu...
1. Công phu chiều, có chùa thì đánh trống và gõ chuông mõ, nhưng có chùa thì không. Gọi chung là tán tụng. Vậy có ý nghĩa thế nào?
Gần: Miền Trung theo lối xưa Xa: Tiếng mõ, tiếng chuông Mộ cổ thần chung cảnh tỉnh ái hà danh lợi khách Kim kinh ngọc kệ hoán hồi khổ hải mộng mê nhân Chuông sớm trống chiều đánh thức người còn đắm đuối trong giấc mộng trầm luân Kinh vàng kệ ngọc gọi trở lại người đang mê mộng trong biển khổ trầm luân
Tam bảo: 3 ngôi báu có công năng làm người ta thức tỉnh mộng mơ, thức tỉnh để thấy được sự thật.
Tiểu giác: tỉnh rồi mê trở lại Đại giác: tỉnh luôn
2. Ý nghĩa của tràng hạt 18 hoặc 108: Cơ thể có 6 căn mắt tai mũi lưỡi thân ý 6 trần sắc thanh hương vị xúc pháp 6 thức nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý Luôn ràng buộc tù túng chật hẹp nhốt mình, tạo thành 18 từng địa ngục. 18 hột phá 18 phiền não của căn, trần, thức 1 câu A Di Đà chính là bát nhã độ soi thấu vạn pháp không
Ngộ không là chiến thắng Ngộ có là chiến bại
3. Nam mô quy mạng đem hết thân mạng trở về quy kính Phật Quy kính Phật Bồ tát trên hội Bát nhã tuỳ văn nhập quán: nghe 1 câu thấu hiểu . tụng theo chữ nghĩa, không hiểu, nhưng cũng có phước . hiểu được nghĩa: . hiểu lý, ứng dụng được nhiều chừng nào thì có kết quả nhiều chừng đó
1. Muôn vật giả danh: Nghiệp cảm duyên khởi 2. Hư vọng duy thức: A lại da duyên khởi 3. Chân thường duy tâm: Tự tánh thanh tịnh duyên khởi Cái chân thật mà còn hoài không sai đổi, sanh ra bốn đức: . Thường . Lạc . Ngã . Tịnh Tu tới đó mới hạnh phúc, không thôi còn khổ hoài. Từ tâm đó mới xây dựng Tịnh Độ: pháp giới duyên khởi.
"Thật vì sanh tử phát tâm bồ đề" Thật vì cái chết và cái sống "Lấy tín nguyện sâu trì danh niệm Phật": Tin Phật, tin mình, tin Pháp Từ đâu sanh ra đây? Nhắm mắt chết đi về đâu? Trong kiếp người dầu cho giàu nghèo sang hèn vinh nhục đẹp xấu cuối cùng không ai tránh nổi cái chết Thương mà xa lìa Ghét mà gặp hoài Mong cầu mà không được Bệnh Chết Thường nhớ được cái kết thúc của cuộc đời mới bớt được tâm xem thường người khác
Lược sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Từ đản sinh đến thành đạo)
A. Mở Đề
Cuộc đời đức Phật Thích Ca là một tấm gương sáng. Mỗi hành động, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói, cho đến mỗi sư im lặng của Ngài đều là những bài học quý báu. Vì vậy, người Phật tử cần phải học hỏi và tìm hiểu ý nghĩa thâm thúy của đời Ngài để đem áp dụng vào cuộc sống.
B. Chánh Đề I. Ý nghĩa việc đản sinh của đức Phật Thích-ca:
-Đản sinh (giáng sanh, thị hiện): sự ra đời vui vẻ, đem lại an lạc cho cuộc sống.
Đức Phật là một con người như tất cả con người, con người có bao nhiêu sự đau khổ phiền não nổi niềm sầu muộn ưu tư , thì Đức Phật cũng đã có như thế, nên cảm thông được tất cả.
Khi đức Phật sanh ra 1 tay chỉ trời, 1 tay chỉ đất, bước bảy bước trên 7 hoa sen: "Trên trời, dưới trời chỉ TA là trên hết, ba cõi đau khổ ta sẽ làm cho được an."
TA: chân ngã, tâm thanh tịnh, chân thật có sẵn nơi mọi người, cái đó là cao tột, tối thượng.
Số 7:
Không gian có 4: Đông, Tây, Nam, Bắc
Thời gian có 3: quá khứ, hiện tại, vị lai
Chân lý sự thật chứng ngộ vượt qua không gian thời gian, đúng với mọi lúc mọi nơi.
Hoa sen ở trong bùn mà không bị nhiễm ô
-Hình ảnh tay chỉ trời, tay chỉ đất, đi bảy bước trên hoa sen: sự thật mà đức Phật chứng ngộ siêu việt không gian và thời gian.
II. Hoàn cảnh và dòng dõi:
Đức Phật đản sinh ở xứ Trung Ấn Độ, hiện là nước Népal, một nước ở ven sườn dãy Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi đẹp và cao nhất thế giới. Song thân Ngài là vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-da. Ngài thuộc dòng dõi Thich Ca.
Một hôm hoàng hậu Ma-da nằm mộng, thấy con voi trắng sáu ngà từ trên hư không đi xuống, lấy ngà khai hông bên phải của bà mà đi vào. Bà đem điềm chiêm bao ấy thuật lại cho vua Tịnh Phạn nghe. Vua ra lệnh mời các thầy đoán mộng. Các nhà tiên tri đoán rằng: "Hoàng hậu sẽ sinh một quý tử tài đức song toàn". Vua Tịnh Phạn mừng rỡ vì ngôi báu từ đây sẽ có người truyền nối.
Voi trắng 6 ngà:
Lục độ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.
Trắng: thanh tịnh. Đức Phật đã viên mãn lục độ vạn hạnh ở trong cái tâm thanh tịnh.
Đến sáng ngày mồng 08 tháng 04 âm lịch (trước Tây lịch 624 năm), tại vườn Lâm-tỳ-ni, cách thành Ca-tỳ-la-vệ 15 km, Hoàng hậu Ma-da đang ngoại cảnh, trông thấy cành hoa Vô Ưu mới nở thơm ngát, bà đưa tay phải với hái, ngay lúc ấy thì thái tử đản sinh.
Vua Tịnh Phạn vui mừng khôn xiết, mời các vị tiên tri đến xem tướng thái tử. Trong số ấy, có đạo sĩ A-tư-đà tu ở núi Hy Mã Lạp, tiên đoán rằng: “Vì thái tử có 32 tướng tốt xuất hiện, nên sẽ trở thành một vị Thánh”.
Tiên A Tư Đà xem tướng thái tử rồi bật khóc. Ông nói sau này Thái tử sẽ thành bậc giác ngộ cứu cánh trọn vẹn, Pháp âm của ngài vang khắp mọi nơi mà ông không còn sống để lắng nghe giáo pháp nhiệm mầu của đức Phật.
Vua Tịnh Phạn muốn đổi số mạng con mình, nên đặt tên cho thái tử là Tất Đạt Đa. Theo tiếng Phạn, Tất Đạt Đa có nghĩa là: “Kẻ sẽ giữ chức vụ mà mình phải giữ”.
Sau khi sinh thái tử được bảy ngày, hoàng hậu Ma-da qua đời. Vua Tịnh Phạn giao thái tử cho em gái hoàng hậu là Ma-ha Ba-xà-ba-đề nuôi dưỡng.
III. Tài năng và đức hạnh:
Càng lớn, diện mạo thái tử càng khôi ngô, tài năng càng phát lộ. Ngài có sức khỏe hơn người, trí thông minh xuất chúng, từ nghề văn đến nghiệp võ. Dù thế, Ngài vẫn không bao giờ tỏ vẻ ngạo mạn, khinh người. Lòng thương người, thương vật của Ngài không ai sánh kịp. Bởi thế, Ngài được trên vua cha yêu quý, dưới thần dân kính trọng, nể vì.
Một hôm vào lễ Hạ Điền, Thái tử được vua cha và quan tham dự, Thái tử thấy những luống cày có sâu bật lên chim bay tới ăn, rồi chim nhỏ lại ăn chim lớn. Thấy được chúng sanh ăn nuốt lẫn nhau. Có chí xuất gia.
IV. Những ràng buộc ngăn chí xuất gia:
Càng thương yêu, quý trọng con, vua Tịnh Phạn lại càng lo sợ con mình sẽ không ở lại với mình, mà sẽ xuất gia tìm đạo để thành vị Thánh, Ngài tìm mọi cách để giữ thái tử. “Ta được nuôi dưỡng tế nhị, quá mức tế nhị. Trong cung của phụ vương ta, các hồ nước được xây lên. Trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng, tất cả đều phục vụ cho ta. Không một hương chiên đàn nào ta dùng là không từ Kasi đến.
Khăn của ta, áo cánh, áo lót, áo khoác bằng vải Kasi. Đêm và ngày, một lọng trắng được che trên đầu ta để tránh xúc chạm nóng, bụi, cỏ hay sương. Ba lâu đài được xây dựng cho ta: một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ, một cái cho mùa mưa. Và tại lâu đài mùa mưa ta được các nhạc công đàn, múa hát xung quanh ta…”.
Thái tử bị bắt buộc phải lập gia thất với công chúa con vua Thiện Giác là Da-du-đà-la và có một con là La-hầu-la.
Dạo bốn cửa thành: Khi về, thái tử yêu cầu vua cha 4 điều. Nếu vua giải quyết được thì Ngài hoãn việc đi tu, ở lại lo cho dân, cho nước. Bốn điều ấy là:
1. Làm sao cho con trẻ mãi không già.
2. Làm sao cho con mạnh mãi không đau.
3. Làm sao cho con sống hoài không chết.
4. Làm sao cho mọi người hết khổ.
Bốn điều này làm vua cha bối rối, không giải quyết được điều nào.
V. Xuất gia tìm đạo:
Vượt thành, quyết tâm xuất gia tìm đạo. Ngày mồng 08 tháng 02, lúc 19 tuổi, Ngài phát tâm xuất gia và vượt thành tìm đạo.
Trời tối nhân gian mờ mịt quá
Giờ này thái tử định đi đâu?
Chính đời mờ mịt nên ta phải…
Đi để tìm ra ánh đạo mầu!
Ngài đã trải qua 5 năm tìm thầy học đạo, 6 năm tu khổ hạnh ở núi Tuyết.
VI. Thành đạo:
Cuối cùng Ngài đến dưới gốc cây Tất-bát-la (Bồ-đề) ở thôn Già-da, chỉ gốc cây và thề rằng: “Nếu ta không thành đạo thì dù xương tan thịt nát, ta quyết không đứng dậy khỏi chỗ này”. Đến đêm thứ 49, khi sao mai vừa mọc, Ngài chứng được đạo quả, thành Phật, hiệu Thích-ca Mâu-ni. Đó là ngày 08 tháng 12. Năm ấy, đức Thế Tôn 30 tuổi.
Kinh Pháp Cú số 153, 154 đã ghi lại một trong những Phật ngôn đầu tiên mà Ngài đã thốt lên trong thời gian này:
Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng không gặp
Người xây dựng nhà này
Khổ thay, phải tái sinh.
Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi
Ngươi không làm nhà nữa
Đòn tay ngươi bị gãy
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta được tịch diệt
Tham ái thảy tiêu vong.
Thế giới ba ngàn chuyển động kinh
Đêm đen tỉnh mịch thấy tâm mình
Chúng sanh cõi nước từ đâu đến
Thấu rõ ba đời kiếp chúng sanh
Hư không rực sáng ánh hào quang
Vạn loại vang ca khúc khải hoàng
Thiên ma dục giới đều quy phục
Dưới bóng từ quang muôn chứa chang
Thử hỏi ai tìm chân lý đạo
Bên dòng sông lặng chẳng riêng ta
VII. Ý nghĩa cao cả trong sự xuất gia tìm đạo:
Trong xã hội, các anh hùng cái thế lập được nhiều chiến công trên chiến trường, nhưng ít ai thắng được dục vọng của chính mình. Đức Phật đã thắng cả ngoại cảnh lẫn nội tâm, đã thắng được giặc ma vương dục vọng. Đức Phật thật xứng đáng với danh hiệu Đại Hùng, Đại Lực.
Ngài chiến đấu không vì quyền lợi riêng của chính mình hay tình cảm nhỏ hẹp, Ngài chiến đấu vì tất cả chúng sinh. Đức Phật thật xứng đáng với danh hiệu Đại Từ, Đại Bi.
Ngài từ bỏ thứ mà người đời cho là quý báu, sống một đời kham khổ, đạm bạc, thiếu thốn giữa rừng thiêng nước độc, không một phút giây nào hối tiếc. Ngài xứng đáng với danh hiệu là Đại Hỷ, Đại Xả.
Đại từ đại bi thương chúng sanh
Đại hỷ đại xả cứu muôn loài
Tướng đẹp chói sáng tự trang nghiêm
Tất cả chúng con đều cúi lạy
C. Kết luận
Qua đời sống của đức Phật từ khi sơ sinh cho đến thành đạo, chúng ta cần phải: Phát tâm Bồ-đề rộng lớn, nguyện vì đời, muôn loài mà tu hành, chứ không phải ích lợi riêng cho bản thân. Phát tâm dõng mãnh, tích cực trong sự tu hành; một khi vào đường đạo, dù gặp nguy nan, hiểm trở khó khăn cũng nhất thiết không thối lui quay gót. Chúng ta phải tập cho được tính kiên trì như đức Phật khi ngồi thiền định dưới gốc Bồ-đề.
Vò viên chay sốt cà - Chùa Giác Lâm
-
Món này ăn với mì Ý, ngon lắm nha.
Công thức cho 100 phần ăn:
- 2 thùng tàu hủ khoảng 70 miếng
- 2 bịch tàu hủ ky đông đá
- 3 pounds bột mì ...